DANH SÁCH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG KHÔNG TỔ CHỨC THI

Cuốn những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ 2013: http://www.mediafire.com/?dmaovajukjxdg5s

STT

Tên trường

Ký hiệu

1

Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam

NVH

2

Học viện Thanh thiếu niên

HTN

3

Trường Đại học Hà Tĩnh

HHT

4

Trường Đại học Hoa Lư Ninh Bình

DNB

5

Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội

KCN

6

Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp

DKK

7

Trường Đại học Lao động – Xã hội

DLX,DLT,DLS

8

Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam

MTH

9

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

SKH

10

Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

GNT

11

Viện Đại học Mở Hà Nội

MHN

12

Trường Đại học Công nghệ và Quản lý Hữu nghị(*)

DCQ

13

Trường Đại học Dân lập Đông Đô(*)

DDD

14

Trường Đại học Dân lập Lương Thế Vinh(*)

DTV

15

Trường Đại học Dân lập Phương Đông(*)

DPD

16

Trường Đại học FPT(*)

FPT

17

Trường Đại học Hoà Bình(*)

HBU

18

Trường Đại học Nguyễn Trãi(*)

NTU

19

Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà(*)

DBH

20

Trường Đại học Thành Đông(*)

DDB

21

Trường Đại học Trưng Vương(*)

DVP

22

Học viện Âm nhạc Huế

HVA

23

Nhạc viện Tp.HCM

NVS

24

Trường Đại học Dầu khí Việt Nam

PVU

25

Trường Đại học Việt Đức

VGU

26

Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu(*)

DBV

27

Trường Đại học Công nghệ Sài gòn(*)

DSG

28

Trường Đại học Công nghệ Thông tin Gia Định(*)

DCG

29

Trường Đại học Dân lập Cửu Long(*)

DCL

30

Trường Đại học Dân lập Duy Tân(*)

DDT

31

Trường Đại học Dân lập Phú Xuân(*)

DPX

32

Trường Đại học Dân lập Văn Lang(*)

DVL

33

Trường Đại học Đông Á (*)

DAD

34

Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng(*)

KTD

35

Trường Đại học Kinh tế -Tài chính TP.HCM(*)

KTC

36

Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học Tp.HCM(*)

DNT

37

Trường Đại học Phan Châu Trinh(*)

DPC

38

Trường Đại học Phan Thiết(*)

DPT

39

Trường Đại học Quang Trung(*)

DQT

40

Trường Đại học Quốc tế Miền Đông(*)

EIU

41

Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn(*)

TTQ

42

Trường Đại học Thái Bình Dương(*)

TBD

43

Trường Đại học Võ Trường Toản(*)

VTT

44

Trường Đại học Văn Hiến(*)

DVH

45

Trường Đại học Yersin Đà Lạt(*)

DYD

46

Trường Đại học quốc tế Rmit Việt Nam(*)

RMU

47

Trường Đại học Anh quốc Việt Nam(*)

BUV

48

Viện Đào tạo quốc tế (IEI) Đại học Quốc gia TP.HCM

IEI

49

Trung tâm Đại học Pháp (PUF – HCM)

QSF

50

Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội

CHK

51

Trường Cao đẳng Công nghiệp Hoá chất

CCA

52

Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn

C11

53

Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai

CLA

54

Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

CDH

55

Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương

CYS

56

Trường Cao đẳng Ngô Gia Tự

C18

57

Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

CMH

58

Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh

C19

59

Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn

C10

60

Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định

C25

61

Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình

C26

62

Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Nguyên

C12

63

Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Miền Trung

CMM

64

Trường Cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hoá

CTO

65

Trường Cao đẳng Thuỷ lợi Bắc Bộ

CTL

66

Trường Cao đẳng Thương Mại và Du lịch Hà Nội

CMD

67

Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Tây Bắc

CVB

68

Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Việt Bắc

CNV

69

Trường Cao đẳng Văn Hoá Nghệ thuật Du lịch Yên Bái

CVY

70

Trường Cao đẳng Y tế Điện Biên

CDY

71

Trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng

CYF

72

Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông

CYM

73

Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh

CYN

74

Trường Cao đẳng Y tế Hưng Yên

CHY

75

Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

CNY

76

Trường Cao đẳng Y tế Thanh Hoá

CYT

77

Trường Cao đẳng ASEAN(*)

CSA

78

Trường Cao đẳng Đại Việt(*))

CEO

79

Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Hà Nội(*)

CKN

80

Trường Cao đẳng Ngoại ngữ – Công nghệ Việt Nhật(*)

CNC

81

Trường Cao đẳng Công nghệ – Đại học Đà Nẵng

DDC

82

Trường Cao đẳng Bến Tre

C56

83

Trường Cao đẳng Bình Định

C37

84

Trường Cao đẳng Cần Thơ

C55

85

Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ

CEN

86

Trường Cao đẳng Công nghiệp Cao su

CSC

87

Trường Cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi

CDS

88

Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc

CBL

89

Trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận

C47

90

Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang

D64

91

Trường Cao đẳng Cộng đồng Kiên Giang

D54

92

Trường Cao đẳng Điện lực TP.HCM

CDE

93

Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải II

CGD

94

Trường Cao đẳng Kinh tế TP.HCM

CEP

95

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Cần Thơ

CEC

96

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Phú Lâm

CPL

97

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Lâm Đồng

CKZ

98

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng TP.HCM

CKP

99

Trường Cao đẳng Lương thực Thực phẩm

CLT

100

Trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình II

CPS

101

Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Phước

C43

102

Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa-Vũng Tàu

C52

103

Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt

C42

104

Trường Cao đẳng Sư phạm Đăk Lăk

C40

105

Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai

C38

106

Trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang

C54

107

Trường Cao đẳng Sư phạm Long An

C49

108

Trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận

C45

109

Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị

C32

110

Trường Cao đẳng Y tế Cà Mau

CMY

111

Trường Cao đẳng Y tế Bình Định

CYR

112

Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương

CBY

113

Trường Cao đẳng Y tế Bình Thuận

CYX

114

Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu

CYB

115

Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ

CYC

116

Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai

CYD

117

Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp

CYA

118

Trường Cao đẳng Y tế Huế

CYY

119

Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hoà

CYK

120

Trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang

CYG

121

Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng

CLY

122

Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang

CYV

123

Trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh

YTV

124

Trường Cao đẳng Bách khoa Đà Nẵng(*)

CKB

125

Trường Cao đẳng Công Kỹ nghệ Đông Á(*)

CDQ

126

Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh doanh Việt Tiến(*)

CCZ

127

Trường Cao đẳng Dân lập Kinh tế kỹ thuật Đông Du Đà Nẵng(*)

CDD

128

Trường Cao đẳng Lạc Việt(*)

CLV

129

Trường Cao đẳng Phương Đông – Quảng Nam(*)

CPD

130

Trường Cao đẳng Tư thục Đức Trí(*)

CDA

131

Trường Cao đẳng Công nghiệp Quốc phòng

QPH

132

Trường Cao đẳng Công nghiệp và Kỹ thuật ô tô

COT

Advertisements

Chấn chỉnh đào tạo liên thông năm 2013 nhằm bảo đảm lợi ích của người học

Việc chấn chỉnh đào tạo liên thông để bảo đảm đúng quy định của pháp luật, đồng thời nâng cao chất lượng, bảo đảm lợi ích căn bản và lâu dài của người học – Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận trả lời băn khoăn liên quan đến quy định mới trong đào tạo liên thông trong chương trình trình “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời”.

Theo Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, Bộ GD&ĐT không dừng đào tạo liên thông, việc đào tạo liên thông sẽ được tiếp tục, mà chỉ triển khai các giải pháp để đưa liên thông trở về đúng bản chất của nó. Đào tạo liên thông hiện nay được hiểu là một hệ đào tạo, điều này không đúng với Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học. Theo quy định, chúng ta chỉ có 2 hệ đào tạo là đào tạo chính quy và đào tạo giáo dục thường xuyên, thường được gọi là tại chức. Đào tạo liên thông nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người.

Đào tạo liên thông chỉ là cách tổ chức đào tạo, trong đó thừa nhận kết quả học tập đã có của người học ở bậc đào tạo trước đó khi tham gia học tập ở bậc cao hơn, nhằm giảm thời gian học tập, chứ không phải là hệ đào tạo mới. Do đó đào tạo liên thông phải tuân thủ theo quy định hoặc của hệ chính quy, hoặc của hệ thường xuyên, chứ không có quy định riêng.
Cách hiểu không đúng về đào tạo liên thông khiến xã hội coi việc học trung cấp chuyên nghiệp, trường nghề, cao đẳng như là “đường vòng, đường tắt” để học đại học. Trong khi đó, việc phát triển các trường nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng là nhằm mục đích phân luồng, giúp xã hội bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa các loại trình độ đào tạo. Nếu coi học trường nghề, cao đẳng là một phương tiện để vào đại học thì mục đích phân luồng  thất bại.
Liên quan đến đào tạo nhân lực tài chính ngân hàng, Bộ trưởng khẳng định, Bộ GD&ĐT không có chủ trương dừng đào tạo các chuyên ngành tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh và kế toán mà chỉ dừng mở mới cơ sở đào tạo và các ngành đào tạo nói trên. Những cơ sở đào tạo đã được phép đào tạo vẫn tuyển sinh bình thường trong năm học tới. Việc làm này nhằm điều chỉnh cơ cấu nguồn nhân lực được đào tạo ở bậc đại học, hạn chế những ngành đã đào tạo tương đối đầy đủ nguồn nhân lực, khuyến khích mở mới những ngành đạo tạo mà nhu cầu trong những năm tới rất cần nhưng hiện quy mô đào tạo chưa đủ. Hiện, số lượng sinh viên các ngành nói trên ra trường mỗi năm rất lớn. Theo một con số do Viện Nhân lực Ngân hàng Tài chính vừa công bố, trong vòng 4 năm tới, số sinh viên tài chính – ngân hàng không xin được việc sẽ là khoảng 13.000 người.
Theo Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, có hai nguyên nhân khiến số lượng các cơ sở đào tạo cũng như số lượng sinh viên theo học các ngành tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh và kế toán tăng mạnh. Đó là nền kinh tế phát triển mạnh trong thời gian qua khiến số lượng doanh nghiệp tăng mạnh, nhu cầu nguồn nhân lực về lĩnh vực này rất lớn. Trong khi đó, việc đào tạo các chuyên ngành này không cần trang thiết bị nhiều so với các ngành khác. Khi nền kinh tế gặp khó khăn, nhu cầu nguồn nhân lực trong các ngành này giảm đi.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển nguồn nhân lực, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho từng ngành, từng địa phương. Do đó, nhu cầu xã hội và khả năng đào tạo của tất cả các ngành sẽ được thống kê, theo dõi để các thí sinh cân nhắc, các trường cũng có thể tự đánh giá khả năng xã hội tiếp nhận nguồn lao động do mình đào tạo.
Trong những năm tới, Bộ GD&ĐT coi việc chấn chỉnh lại kỷ cương trong đào tạo là một nhiệm vụ trọng tâm, không giới hạn trong các ngành ngành tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh và kế toán mà ở tất cả các ngành. Bộ GD&ĐT sẽ cập nhật, có giải pháp hạn chế hoặc khuyến khích các ngành học để bảo đảm đào tạo cân đối, phù hợp nhu cầu. Thông tin về ngành tài chính, ngân hàng là thông báo đầu tiên, tiếp theo sẽ có nhiều thông báo khác và việc này sẽ được làm định kỳ, thường xuyên.

Nguồn tin: viettronics.edu.vn

Theo Giáo dục Hải Phòng

Thêm một số Đại Học công bố dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh 2013

Một số trường ĐH công bố dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh năm 2013.

Thí sinh thi TS ĐH năm 2012. Ảnh: gdtd.vn
Thí sinh thi TS ĐH năm 2012. Ảnh: gdtd.vn

Trường ĐH Kinh tế quốc dân dự kiến 4500 chỉ tiêu tuyển sinh. Chỉ tiêu này bao gồm cả chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ của các tỉnh (theo quyết định của Bộ) và từ các trường dự bị ĐH chuyển về.

Trường tuyển sinh trong cả nước. Thí sinh đăng ký thi tuyển sinh theo ngành với mã quy ước.

Ngành Ngôn ngữ Anh, ngành Quản trị kinh doanh học bằng tiếng Anh (E-BBA), ngành Quản trị khách sạn và lữ hành định hướng nghề nghiệp (POHE) điểm thi môn Tiếng Anh tính hệ số 2.

Trường xét tuyển theo 3 nhóm ngành:

Nhóm 1: gồm 9 ngành: Ngôn ngữ Anh, Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Marketing, Bất động sản, Tài chính ngân hàng, Kế toán và Quản trị nhân lực. Nhóm này có điểm sàn chung vào Trường (theo khối thi) và điểm trúng tuyển vào ngành (theo khối thi). Thí sinh đạt điểm sàn vào Trường nhưng không đạt điểm trúng tuyển vào ngành đã dự thi được chuyển sang ngành khác, cùng khối thi, còn chỉ tiêu, có điểm trúng tuyển thấp hơn, nếu thí sinh có nguyện vọng.

Nhóm 2, gồm 7 ngành và lớp E-BBA: (7 ngành gồm: Toán ứng dụng trong kinh tế, Thống kê kinh tế, Kinh tế tài nguyên, Quản trị khách sạn, Hệ thống thông tin quản lý, Luật, Khoa học máy tính). Nhóm này có điểm trúng tuyển vào từng ngành và có thể thấp hơn điểm sàn chung vào trường (mục 1), nhưng không quá 1 (một) điểm.

Nhóm 3: Các Lớp POHE: điểm trúng tuyển lớp POHE thấp hơn điểm sàn chung vào Trường, nhưng không quá 3 điểm.

Sau 1,5 năm, căn cứ kết quả tuyển sinh đại học, kết quả học tập và nguyện vọng của sinh viên, Trường sẽ tổ chức xếp sinh viên vào chuyên ngành trong nội bộ ngành đã trúng tuyển. Điểm xếp chuyên ngành là tổng của điểm trung bình tuyển sinh (hệ số 2) và điểm trung bình chung học tập năm thứ nhất (hệ số 1).

Chỉ tiêu cụ thể như sau:

 

Tên trường.
Ngành học
Ký hiệu trường Mã ngành Khối thi Tổng chỉ tiêu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KINH TẾ QUỐC DÂN
KHA     4500
I – Các ngành đăng ký tuyển sinh         
1. Ngôn ngữ Anh
Chuyên ngành Tiếng Anh thương mại
  D220201 A1,D1 100
2. Kinh tế
Gồm các chuyên ngành:
– Kinh tế và Quản lý đô thị
– Kế hoạch
– Kinh tế phát triển
– Kinh tế và Quản lý môi trường
– Quản lý kinh tế
– Kinh tế và Quản lý công
– Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn
– Kinh tế đầu tư
– Kinh tế quốc tế
– Kinh tế học
– Thẩm định giá
– Hải quan
– Kinh tế lao động
Và lớp chất lượng cao (chỉ tiêu: 55)
  D310101 A, A1, D1 1200
3. Toán ứng dụng trong kinh tế.
Gồm 2 chuyên ngành:
– Toán kinh tế
– Toán tài chính
  D110106 A, A1, D1 120
4. Thống kê kinh tế
Gồm 2 chuyên ngành:
– Thống kê kinh tế xã hội
– Thống kê kinh doanh
  D110105 A, A1, D1 120
5. Kinh tế tài nguyên   D110107 A, A1, D1 60
6. Quản trị kinh doanh (QTKD)
Gồm 6 chuyên ngành:
– QTKD quốc tế
– QTKD thương mại
– Thương mại quốc tế
– Quản trị doanh nghiệp
– QTKD tổng hợp
– Quản trị chất lượng
– Các lớp chất lượng cao (chỉ tiêu: 110)
  D340101 A, A1, D1 800
7. Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
Gồm 2 chuyên ngành:
– Quản trị du lịch
– Quản trị lữ hành
  D340103 A, A1, D1 90
8. Quản trị khách sạn
Chuyên ngành Quản trị khách sạn
  D340107 A, A1, D1 60
9. Marketing 
Gồm 3 chuyên ngành:
– Quản trị marketing
– Quản trị bán hàng
– Truyền thông marketing
– Lớp chất lượng cao (chỉ tiêu: 45)
  D340115 A, A1, D1 180
10. Bất động sản
Gồm 2 chuyên ngành:
– Kinh doanh bất động sản
– Kinh tế bất động sản và địa chính
  D340116 A, A1, D1 120
11. Tài chính Ngân hàng
Gồm các chuyên ngành:
– Ngân hàng
– Tài chính doanh nghiệp
– Tài chính công
– Tài chính quốc tế
– Thị trường chứng khoán
– Bảo hiểm
– Các lớp chương trình tiên tiến, chất lượng cao, lớp Tài chính doanh nghiệp tiếng Pháp (chỉ tiêu: 205)
  D340201 A, A1, D1 590
12. Kế toán. 
Gồm 2 chuyên ngành:
– Kế toán tổng hợp
– Kiểm toán
– Các lớp chương trình tiên tiến, chất lượng cao (chỉ tiêu: 165)
  D340301 A, A1, D1 400
13. Quản trị nhân lực   D340404 A, A1, D1 180
14. Hệ thống thông tin quản lýGồm 2 chuyên ngành:
– Tin học kinh tế
– Hệ thống thông tin quản lý
  D340405 A, A1, D1 100
15. Luật
Gồm 2 chuyên ngành:
– Luật kinh doanh
– Luật kinh doanh quốc tế
  D380101 A, A1, D1 120
16. Khoa học máy tính,
Chuyên ngành Công nghệ thông tin
  D480101 A, A1,D1 60
17 – Quản trị kinh doanh học bằng tiếng Anh (E-BBA)   D110109 A, A1, D1 100
18 – Quản trị khách sạn và lữ hành định hướng nghề nghiệp (POHE)   D110110 A1, D1 100
II – Các lớp tuyển chọn sau khi sinh viên trúng tuyển nhập học:
Gồm các lớp chương trình tiên tiến và chất lượng cao; lớp Tài chính doanh nghiệp tiếng Pháp
1 – Các lớp chương trình tiên tiến     A, A1, D1 220
2- Các lớp chất lượng cao     A, A1, D1 330
3- Lớp Tài chính doanh nghiệp tiếng Pháp     A, A1, D1 40

Trường Đại học Hồng Đức dự kiến 1750 chỉ tiêu trong kỳ tuyển sinh 2013. Trường tuyển sinh trong cả nước. Bậc cao đẳng không tổ chức thi, chỉ xét tuyển cho những thí sinh có hồ sơ đăng ký xét tuyển, dựa vào kết quả thi đại học theo đề thi chung của Bộ GD&ĐT năm 2013 và khối thi tương ứng.

Điểm tuyển tính từng ngành (Riêng các ngành khối Nông-Lâm-Ngư nghiệp tuyển sinh theo khối ngành). Riêng với GD Mầm non: điểm tối thiểu môn năng khiếu phải đạt từ 4,0 điểm trở lên.

Số

TT

Tên trường

Ngành học

Ký hiệu trường Mã ngành đào tạo Khối thi

 

Chỉ tiêu

(Dự kiến)

    HDT      
           
I Hệ đào tạo đại học       1750
1 Sư phạm Toán học   D140209

A,A1

 
2 Sư phạm Vật lý   D140211

A,A1

 
3 Sư phạm Hóa học   D140212 A,B  
4 Sư phạm Sinh học   D140213 B  
5 Sư phạm Ngữ văn   D140217 C,D1  
6 Sư phạm Lịch sử   D140218 C  
7 Sư phạm Địa lý   D140219 A,A1,C  
8 Sư phạm tiếng Anh   D140231 A1,D1  
9 Giáo dục Tiểu học   D140202 D1,M  
10 Giáo dục Mầm non   D140201 M  
11 Văn học   D220330 C,D1  
12 Lịch sử (định hướng Quản lý di tích, danh thắng)   D220310 C  
13 Địa lý học (định hướng Quản lý tài nguyên môi trường)   D310501 A,A1,C  
14 Việt Nam học (định hướng Hướng dẫn du lịch)   D220113 A,C,D1  
15 Xã hội học (định hướng Công tác xã hội)   D310301 A,C,D1  
16 Tâm lý học (định hướng Quản trị nhân sự)   D310401 A,A1,

B,C,D1

 
17 Công nghệ thông tin   D480201 A,A1  
18 Kỹ thuật công trình xây dựng   D580201 A,A1  
19 Vật lý học (Vật lý ứng dụng)   D440102 A,A1  
20 Kế toán   D340301 A,A1,D1  
21 Quản trị kinh doanh   D340101 A,A1,D1  
22 Tài chính-Ngân hàng   D340201 A,A1,D1  
23 Nông học (định hướng công nghệ cao)   D620109 A,A1,B  
24 Chăn nuôi (Chăn nuôi-Thú y)   D620105 A,A1,B  
25 Bảo vệ thực vật   D620112 A,A1,B  
26 Lâm nghiệp   D620201 A,A1,B  
II Hệ đào tạo cao đẳng:       900
1 SP Toán học (Toán – Tin)   C140209

A,A1

 
2 SP Hoá học (Hóa – Sinh)   C140212

A,B

 
3 SP Sinh học (Sinh-Công nghệ nông nghiệp)   C140213

B

 
4 SP Ngữ văn (Văn-Sử)   C140217 C,D1  
5 SP Địa lý (Địa-Sử)   C140219 A,A1,C  
6 Giáo dục Mầm non   C140201 M  
7 Giáo dục Tiểu học   C140202 D1,M  
8 SP Tiếng Anh   C140231 A1,D1  
9 Kế toán   C340301 A,A1,D1  
10 Quản trị Kinh doanh   C340101 A,A1,D1  
11 Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử   C510301 A,A1  
12 Quản lý đất đai   C850103 A,A1,B  
13 Công nghệ thông tin   C480201 A,A1  

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội thông báo sẽ dự kiến 9600 chỉ tiêu cho năm 2013.

Hệ ĐH, trường chỉ tổ chức thi tuyển hai khối A và D1 (không tổ chức thi khối B, V, H). Điểm trúng tuyển theo chuyên ngành đào tạo.

Hệ Cao đẳng: Không tổ chức thi tuyển mà lấy kết quả thi ĐH năm 2013 của những thí sinh đã thi các khối A, B, D1, V, H vào các trường ĐH trong cả nước theo đề thi chung của Bộ GD&ĐT để xét tuyển trên cơ sở Hồ sơ đăng ký xét tuyển của thí sinh.

Nhà trường lưu ý, thí sinh có nguyện vọng  1 vào hệ CĐ của trường ĐHCNHN nên nộp hồ sơ đăng ký dự thi cho trường ĐHCNHN và dự thi đợt thi tuyển sinh đại học tại các Hội đồng thi do trường ĐHCNHN tổ chức tại 4 cụm thi (Hà Nội, Vinh, Quy Nhơn, Hải Phòng) để thuận tiện cho việc xét tuyển và gọi nhập học khi trúng tuyển.

Số

TT

– Tên trường;

– Ngành học.

Ký hiệu trường Mã ngành Khối thi

 

Tổng chỉ tiêu

 

  (1) (2) (3) (4) (5)
  TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI       9600
  (Xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội); ĐT: (043) 7655121 (Máy lẻ 224) hoặc 043.7650051

Website: http://tuyensinh.haui.edu.vn

DCN      
  Các ngành đào tạo Đại học: DCN     4900
1  Công nghệ kỹ thuật Cơ khí DCN D510201 A 450
2  Công nghệ kỹ thuật Cơ điện tử DCN D510203 A 300
3  Công nghệ kỹ thuật Ôtô DCN D510205 A 450
4  Công nghệ kỹ thuật Điện, Điện tử (chuyên ngành: Công nghệ kỹ thuật điện) DCN D510301 A 450
5  Công nghệ kỹ thuật Điện tử, truyền thông (Gồm các chuyên ngành: Công nghệ kỹ thuật điện tử, Công nghệ kỹ thuật điện tử tin học, Công nghệ kỹ thuật điện tử viễn thông). DCN D510302   390
6  Khoa học máy tính DCN D480101 A 200
7  Kế toán DCN D340301 A,D1 300
8  Công nghệ kỹ thuật Nhiệt DCN D510206 A 100
9  Quản trị kinh doanh (Gồm các chuyên ngành: Quản trị kinh doanh và Quản trị kinh doanh Du lịch). DCN D340101 A,D1 360
10  Công nghệ May DCN D540204 A 270
11  Thiết kế thời trang DCN D210404 A 100
12  Công nghệ kỹ thuật Hoá học (Gồm các chuyên ngành: Công nghệ kỹ thuật Hóa vô cơ, Công nghệ kỹ thuật Hóa hữu cơ, Công nghệ kỹ thuật Hóa phân tích). DCN D510401 A 360
13  Ngôn ngữ Anh DCN D220201 D1 270
14  Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hoá DCN D510303 A 180
15  Hệ thống thông tin DCN D480104 A 180
16  Tài chính ngân hàng DCN D340201 A,D1 180
17  Kỹ thuật phần mềm DCN D480103 A 180
18  Việt Nam học (Hướng dẫn du lịch) DCN D220113 D1 180
  Các ngành đào tạo Cao đẳng:       4700
1  Công nghệ chế tạo máy DCN C510202 A 450
2  Công nghệ kỹ thuật Cơ điện tử DCN C510203 A 250
3  Công nghệ kỹ thuật Ô tô DCN C510205 A 450
4  Công nghệ kỹ thuật Điện, Điện tử ( Chuyên ngành Kỹ thuật điện). DCN C510301 A 540
5  Công nghệ kỹ thuật Điện tử, truyền thông (Gồm các chuyên ngành: Công nghệ kỹ thuật điện tử và Công nghệ kỹ thuật điện tử viễn thông). DCN C510302 A 450
6  Công nghệ thông tin DCN C480201 A 250
7  Kế toán DCN C340301 A,D1 300
8  Công nghệ Kỹ thuật Nhiệt DCN C510206 A 150
9  Quản trị kinh doanh DCN C340101 A,D1 200
10  Công nghệ  May DCN C540204 A,B,V,H 200
11  Thiết kế thời trang DCN C210404 A,B,V,H 150
12 Công nghệ kỹ thuật Hoá học (Gồm các chuyên ngành: Công nghệ kỹ thuật Hóa vô cơ, Công nghệ kỹ thuật Hóa hữu cơ, Công nghệ kỹ thuật Hóa phân tích). DCN C510401 A,B 450
13  Công nghệ kỹ thuật cơ khí (Cơ điện) DCN C510201 A 280
14  Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa DCN C510303 A 150
15  Tài chính – Ngân hàng DCN C340201 A, D1 280
16  Việt Nam học DCN C220113 A, D1 150

Trường ĐH Hoa Sen tuyển mới ngành kỹ thuật phần mềm, tuyển khối A, A1, D1, D3 với 80 chỉ tiêu. Trường cũng đang xin phép mở hai ngành khác là ngành thiết kế nội thất, tuyển khối H với 60 chỉ tiêu và ngành quản lý tài nguyên và môi trường, tuyển khối A, B, D1 với 60 chỉ tiêu.

Hiếu Nguyễn

Tuyển sinh 2013: những ngành nghề thiếu lao động trong những năm tới

Sau khi khảo sát doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và doanh nghiệp bên ngoài, số liệu của trung tâm cho thấy lực lượng lao động cần nhiều nhất là ở trình độ trung cấp 21,52%, CĐ cần 11,21%, ĐH chỉ cần 12,31% và trên ĐH chỉ cần 0,5%.

Theo khảo sát của Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM, giai đoạn 2013-2015 đến năm 2020, thị trường lao động cần số lượng rất lớn kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ trình độ cao đẳng và trung cấp.

Nhóm ngành đang thiếu nhân lực

Ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc trung tâm, cho biết: “Không chỉ ở khu vực TP.HCM mà ở đâu cũng vậy, nhân lực thuộc các ngành nghề kỹ thuật, dịch vụ luôn luôn thiếu. Tại TP.HCM, trong năm 2013, nhóm ngành marketing – kinh doanh – bán hàng chiếm 27,08% nhu cầu nhân lực. Kế đó là nhóm ngành du lịch – nhà hàng – khách sạn – dịch vụ – phục vụ chiếm 19,92%, công nghệ thông tin – điện tử – viễn thông chiếm 7,79%…”.

 

nganh hot, nganh de xin viec, tu van chon truong, tu van tuyen sinh, huong nghiep, tu van chon nganh, nganh luong cao, thanh nien

Doanh nghiệp cần nhiều lao động kỹ thuật trình độ cao đẳng, trung cấp – Ảnh: Mỹ Quyên

Theo quy hoạch phát triển nhân lực TP.HCM đến năm 2020, TP.HCM ưu tiên phát triển nguồn lao động cho những ngành có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, đảm bảo nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho 4 ngành công nghiệp chủ lực. Đó là cơ khí chế tạo chính xác – tự động hóa, điện tử – công nghệ thông tin, chế biến thực phẩm theo hướng tinh chế và hóa chất – hóa dược – mỹ phẩm. Trong đó, tổng số nhu cầu nhân lực bình quân hằng năm là khoảng 270.000 thì các nhóm này chiếm 17%, khoảng 45.900 lao động. Ông Trần Anh Tuấn nhấn mạnh, nhóm ngành công nghệ thông tin ở đây gồm những chuyên ngành có tính “thời thượng” như thiết kế đồ họa, truyền thông đa phương tiện, lập trình… thì nhu cầu mới cao và mức lương mới hấp dẫn.

Còn lại, có 9 nhóm ngành kinh tế dịch vụ trọng điểm cũng ưu tiên nhân lực, trong đó có du lịch, giáo dục, y tế – chăm sóc sức khỏe… Điều đáng nói là nhóm ngành tài chính – tín dụng – ngân hàng chỉ chiếm 4% (khoảng 10.800 nhân lực), thấp hơn nhóm ngành du lịch (13.500 nhân lực) và giáo dục (21.600 nhân lực) chứ không còn độ nóng như thời điểm vài năm trước đây.

Cần lao động trình độ trung cấp

Sau khi khảo sát doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và doanh nghiệp bên ngoài, số liệu của trung tâm cho thấy lực lượng lao động cần nhiều nhất là ở trình độ trung cấp 21,52%, CĐ cần 11,21%, ĐH chỉ cần 12,31% và trên ĐH chỉ cần 0,5%.

Thật vậy, nhu cầu tìm việc phân theo trình độ năm 2012 cho thấy, chỉ có 13,31% người tốt nghiệp trung cấp đi xin việc, 27,81% CĐ và có tới 54,88% trình độ ĐH và trên ĐH, trong khi doanh nghiệp lại cần lao động học trung cấp nhiều hơn. Điều này dẫn đến tình trạng, sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường không có việc làm, trong khi việc làm đòi hỏi trình độ trung cấp nhiều mà lại không có người học.

Cần thay đổi nhận thức

Theo đánh giá từ khảo sát của trung tâm ở 2.080 doanh nghiệp vào quý 4/2012, lương bình quân của người đang làm việc lao động phổ thông, sơ cấp nghề khoảng 2,5 – 2,9 triệu đồng/tháng, nhân viên, chuyên viên kỹ thuật bậc cao có mức lương bình quân từ 5 – 10 triệu đồng/tháng. “Đó là chưa kể những nghề đặc biệt như hàn, lập trình mobile… thu nhập hằng tháng cao gấp nhiều lần mức lương của một sinh viên tốt nghiệp ĐH đi làm nhân viên bình thường” – ông Trần Anh Tuấn cho hay. Từ đó, ông Tuấn nhìn nhận, việc một thí sinh có học lực trung bình nhưng không chịu học TCCN, trung cấp nghề trong khi cố thi ĐH lần 2, 3 hoặc học nguyện vọng bổ sung để rồi ra trường rất khó xin việc, là một nhận thức lệch lạc cần thay đổi.

Tuyển sinh 2013: Học sinh quan tâm hơn đến trường nghề

Xu hướng tuyển dụng của các doanh nghiệp hiện nay cần thợ hơn thầy, đặc biệt là lao động có tay nghề.

Nắm bắt được điều này, các em HS Trường THPT Hiệp Bình (Q.Thủ Đức, TP.HCM) đã đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến trường nghề, TCCN cho Ban tư vấn tuyển sinh “Đúng ngành nghề, sáng tương lai” do Báo Giáo Dục TP.HCM tổ chức.

Doanh nghiệp gắn với nhà trường

Nhiều HS có học lực trung bình nên muốn đăng ký xét tuyển để bỏ qua giai đoạn thi cử, nhưng học trường nào dễ xin việc làm? Đó là mối quan tâm hàng đầu của các em. Vũ Thị Ngọc Hân (HS lớp 12A1) thắc mắc: “Em muốn học nghề bartender vì học lực của em chỉ ở mức trung bình. Vậy có trường nào đào tạo ngành này mà không tổ chức thi tuyển hay không?”. Với câu hỏi này, thầy Đoàn Quốc Phương, phụ trách tuyển sinh Trường TC Mai Linh, chia sẻ: “Với nghề bartender, HS tốt nghiệp THPT hoặc thậm chí chưa có bằng tốt nghiệp cũng có thể đăng ký xét tuyển ở các trường TCCN hoặc học ở các trung tâm. Thời gian để có được chứng chỉ ở trung tâm rất ngắn, chỉ cần khoảng 6 tháng học về pha chế rượu là các em đã có thể đi làm”.
Cơ khí kỹ thuật là một trong những ngành đang hút nhiều nhân lực nhưng số lao động ở ngành này đang thiếu. Vậy học cơ khí kỹ thuật ở đâu vừa dễ thi đầu vào lại có thu nhập cao là điều mong muốn của không ít HS. “Em thích ngành liên quan đến kỹ thuật. Nếu học ngành này em cần có những tố chất gì, xu hướng việc làm của ngành này như thế nào?”, một em HS đặt câu hỏi.
Trả lời câu hỏi này, ThS. Nguyễn Long An Di, Phó trưởng phòng Đào tạo Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức, cho biết: “Em cần xác định năng lực học tập của mình ở mức độ nào để lựa chọn ngành và cấp học cho phù hợp. Nếu học lực của em chỉ ở mức trung bình thì nên chọn trường CĐ nghề hoặc TCCN. Hiện Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức có đào tạo ngành này và thường gắn kết với doanh nghiệp để các em được thực hành thực tế. Theo dự báo về việc làm, các ngành liên quan về kỹ thuật đang thiếu nhân lực, vì vậy năm 2013, Bộ GD-ĐT sẽ hạ chỉ tiêu các ngành kinh tế xuống để tạo điều kiện cho thí sinh đăng ký ngành kỹ thuật”.
Em Nguyễn Tuấn Anh (HS lớp 12A8) hỏi: “Ngành bảo trì và sửa chữa ô tô có được thực hành thường xuyên trên các trang thiết bị hay không?”. Thầy Đoàn Quốc Phương cho biết  Trường TC Mai Linh có đào tạo ngành này và đào tạo theo mô hình gắn kết với doanh nghiệp và việc làm. Khi học, học viên được thực hành trực tiếp trên các xe ô tô của hãng Mai Linh cũng như ở các xí nghiệp, nhà máy của Nhà nước và Công ty Mai Linh.
Chỉ cần đam mê sẽ có việc làm
Bên cạnh những câu hỏi đặt ra cho các trường TC và CĐ, nhiều HS còn quan tâm đến sở thích khi chọn ngành, đặc biệt là các yếu tố như ngoại hình, giới tính… có ảnh hưởng như thế nào đến việc học và việc làm của các em.
Em Tô Thị Gái (HS lớp 12A9) phân vân: “Em học tiếng Anh tương đối tốt vì thích giao tiếp với mọi người nhưng em không có ngoại hình, vậy em có thể xin được việc làm tốt hay không?”.
“Với tiếng Anh, các em chỉ cần giỏi và có bổ sung thêm ít nhất một ngoại ngữ khác thì sẽ rất dễ xin việc. Trong ngành tiếng Anh, có đam mê và giỏi thì chắc chắn các em sẽ thành công, còn ngoại hình sẽ không thể cản trở được con đường thành công của các em. Trong bất cứ ngành nghề nào cũng vậy, chỉ cần có năng lực và các kỹ năng mềm là sẽ làm việc tốt. Vì vậy các em không nên tự ti về vẻ bên ngoài của mình”, thầy Biện Chương Dương – giảng viên Khoa Tâm lý, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM chia sẻ.
Nhiều người cho rằng, nữ nên học những ngành nhẹ nhàng, còn những ngành khác như cơ khí, hóa dầu… nên dành cho nam vì phái mạnh có sức khỏe tốt. Vì thế, dù rất thích các ngành này nhưng nhiều em HS nữ lại không dám đăng ký dự thi. Một HS học lớp 11 hỏi: “Em là nữ nhưng lại thích ngành cơ khí điện lạnh. Nếu học ngành này em sẽ gặp những khó khăn gì?”. Bàn về vấn đề này, ThS. Nguyễn Long An Di cho biết: “Hiện nay các công ty cơ khí của nước ngoài rất thích tuyển lao động nữ vì nữ làm việc rất tỉ mỉ. Hiện Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức có liên kết với một doanh nghiệp của nước ngoài, họ không chỉ nhận hết 100% SV nữ mà còn cấp học bổng (6 triệu đồng/suất/năm) cho các SV nữ của trường”.
Một em HS khác hỏi: “Em có khả năng xây dựng lại hình ảnh, ở lần đầu gặp mặt chỉ trong vài giây ngắn ngủi em có thể tái hiện hình ảnh của người đó. Vậy năng khiếu của em là hình ảnh học đúng hay sai và có trường nào đào tạo về năng khiếu này không?”. Trả lời câu hỏi này, thầy Nguyễn Duy Thơ, Hiệu trưởng Trường Đào tạo Mỹ thuật đa phương tiện Arena, cho biết: “Năng khiếu của em thuộc về ngành mỹ thuật. Em có thể chọn khối H và khối V để thi vào các trường đào tạo ngành này. Với Trường Arena, em sẽ thi các môn thuộc về năng khiếu hình ảnh như vẽ hình họa, vẽ chân dung, trang trí màu…”.
Bài, ảnh: Dương Bình

Không bỏ điểm sàn trong mùa tuyển sinh 2013

Lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho biết trong mùa tuyển sinh năm 2013 vẫn chưa có thay đổi lớn và không bỏ điểm sàn đại học, cao đẳng.

 

Không bỏ điểm sàn

 

Vừa qua, Hiệp hội các trường ĐH-CĐ ngoài công lập đã họp để trình kiến nghị lên Bộ GD-ĐT về việc bỏ thi “3 chung” và bỏ điểm sàn ngay trong mùa tuyển sinh năm 2013.

 

Đại diện các trường ĐH, CĐ ngoài công lập cho rằng nhiều năm nay các trường đại học công lập đều bằng điểm sàn khiến cho các trường ngoài công lập không tuyển đủ chỉ tiêu.

 

Tuy nhiên, thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga lại cho rằng chỉ tiêu về điểm sàn đã được Bộ GD-ĐT tính toán kỹ lưỡng để đảm bảo nguồn tuyển. Nhiều em trên điểm sàn nhưng lại đi học hệ cao đẳng có uy tín.

 

“Chúng tôi tôn trọng quyền tự chủ của các trường và sự tự nguyên của các em. Chúng tôi làm sao có thể dùng biện pháp hành chính để cấm các em đủ điểm vào đại học nhưng lại chọn trường cao đẳng. Bởi vì các em thấy học những ngành ở trường cao đẳng là cần thiết, sau này các em muốn học lên đại học sẽ thi liên thông” – Thứ trưởng Bùi Văn Ga chia sẻ.

 

Lãnh đạo Bộ cũng chia sẻ thêm rằng, lý do các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập không tuyển được vì đa số đào tạo các về tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh… trong đó lại ít đào tạo về kỹ thuật.
Những ngành này trong một vài năm nay đã bão hòa, vì vậy các trường đại học ở top trên còn khó tuyển đủ chỉ tiêu thì việc các trường top dưới không tuyển đủ cũng là điều bình thường.

 

Dự báo, trong mùa tuyển sinh năm 2013 việc tuyển sinh các ngành đã bão hòa này tiếp tục khó khăn đối với nhiều trường.

 

Không có 2 mức điểm sàn

 

Trước kiến nghị của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập muốn hạ điểm sàn để tuyển đủ chỉ tiêu, lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho rằng không nên chỉ nghĩ tuyển đủ chỉ tiêu bằng mọi giá.

 

Việc tuyển đầu vào quá thấp khó có thể đào tạo ra người sở hữu năng lực đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận của thị trường.

 

Thứ trưởng Bùi Văn Ga cũng cho rằng, thời gian vừa qua các trường đã chạy theo số lượng quá nhiều, dẫn đến sinh viên tốt nghiệp ra trường bị nhà tuyển dụng chê, dẫn đến thất nghiệp.

 

“Tôi khẳng định, đã đến lúc phải kiểm soát chất lượng. Bất cứ giải pháp nào có chất lượng sẽ được tôn trọng” – Thứ trưởng Bùi Văn Ga chia sẻ.

 

Nhiều ý kiến cho rằng Bộ GD-ĐT nên bỏ điểm sàn để xét tuyển điểm tốt nghiệp THPT, nhưng quan điểm của Bộ cho rằng điểm sàn là ngưỡng tối thiểu để học sinh học được. Nếu bỏ điểm sàn các trường tuyển đủ ngay lập tức, nhưng chất lượng đầu ra sẽ không được đảm bảo.

 

Bên cạnh đó, nhiều trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cho rằng trong mùa tuyển sinh năm 2013, Bộ GD-ĐT nên có những mức điểm sàn khác nhau cho các loại trường khác nhau. Tuy nhiên ý tưởng này cũng không nhận được sự đồng tình của lãnh đạo Bộ GD-ĐT.

 

Thứ trưởng Bùi Văn Ga chia sẻ, các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập luôn muốn không phân biệt bằng cấp, cho nên không thể nói hai đầu vào khác nhau mà bằng cấp như nhau. Bộ muốn giữ cho các trường ngoài công lập nên không thể chấp thuận đề nghị đó.

 

Các trường muốn chất lượng như nhau, được xã hội đánh giá như nhau thì mình không thể nào có điểm sàn quy định trường này thấp hơn trường kia.

 

“Tôi muốn các trường công lập và ngoài công lập phải nâng cao uy tín của mình lên. Trường càng uy tín, điểm sàn đầu vào càng cao, tạo ra sự phân tầng rõ rệt” – Thứ trưởng Bùi Văn Ga chia sẻ.

 

Lãnh đạo Bộ GD-ĐT cũng khẳng định từ nay đến năm 2015 kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng sẽ không có thay đổi lớn, chỉ thay đổi kỹ thuật cho phù hợp nhất với tình hình hiện nay.

 

Một số thay đổi như: Bổ sung diện tuyển thẳng, xét tuyển thí sinh ở các huyện nghèo vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Sau năm 2015 khi SGK mới và chương trình học phổ thông thay đổi thì tuyển sinh đại học, cao đẳng mới có thay đổi.

 

Phạm Thịnh (lược ghi)

Nguồn: vtc.vn

Nhiều đổi mới trong kỳ thi Đại học, Cao đẳng 2013

Chiều 9.1, Bộ GD-ĐT đã tổ chức họp báo công bố về việc đổi mới trong kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm nay. Theo đó, sẽ có nhiều quy định được xem xét, sửa đổi trong quy chế tuyển sinh năm nay.

10 trường được thi tuyển sinh riêng
Tại cuộc họp báo, ông Ngô Kim Khôi, Cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT) cho biết: Bộ đã chính thức phê duyệt đề án thi tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy vào các trường khối văn hóa, nghệ thuật. Năm nay, Bộ cho phép 10 trường thuộc khối ngành này được thi tuyển sinh riêng. Đây là những trường được làm thí điểm đầu tiên khi thực hiện luật Giáo dục ĐH. Sau đề án này, Bộ sẽ tiếp tục xem xét để các trường có đủ điều kiện và đề án phù hợp với thực tiễn được tự chủ chịu trách nhiệm trong tuyển sinh.
Theo đề án, phương án tuyển sinh của các trường là: Đối với những trường có tuyển sinh các ngành khối văn hóa (khối C) thì chỉ xét tuyển dựa vào kết quả thi theo đề thi chung. Đối với những trường có tuyển sinh các ngành khối nghệ thuật (khối H, N, S): môn ngữ văn sẽ xét tuyển dựa vào kết quả thi tốt nghiệp THPT và điểm tổng kết 3 năm học THPT; môn năng khiếu do hiệu trưởng các trường quyết định. Để tổ chức thi các môn năng khiếu, hiệu trưởng các trường lập đề án trình Bộ VH-TT-DL phê duyệt, báo cáo Bộ trước ngày 31.1.2013.
thong tin tuyen sinh 2013
Thí sinh dự thi vào khối trường văn hóa, nghệ thuật được thi riêng – Ảnh: Đăng Nguyên
Ông Đào Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo (Bộ VH-TT-DL) cho biết thêm: Lịch thi của các trường này sẽ được bố trí lệch với thời gian của kỳ thi chung do Bộ GD-ĐT tổ chức. Thời gian thi sẽ kéo dài hơn nhưng trong vòng tháng 7. Sở dĩ Bộ lựa chọn thời gian này để đảm bảo cho thí sinh tham gia thi các trường khác nhưng thời gian thi cũng không quá kéo dài. Ông Hùng thông tin thêm: Hiện mới chỉ có 10/18 trường thuộc Bộ VH-TT-DL được phép tự chủ tuyển sinh. Còn lại các trường khác trong đó có 2 Trường ĐH Sân khấu – Điện ảnh chưa được thi riêng là do các trường này chưa có đề án khả thi.
Một điểm đáng lưu ý của đề án là Bộ GD-ĐT đã cho phép các đối tượng được xét tuyển thẳng gồm: học sinh đã tốt nghiệp THPT, trung học chuyên nghiệp, đoạt giải xuất sắc hoặc giải nhất, nhì, ba tại các hội thi, hội diễn, liên hoan, triển lãm trong lĩnh vực nghệ thuật ở cấp quốc gia, quốc tế hoặc tương đương được tuyển thẳng vào ĐH hoặc CĐ theo đúng ngành mà thí sinh đã đoạt giải. Việc bảo lưu kết quả đối với thí sinh đoạt giải nhưng chưa tốt nghiệp THPT và thời gian được tính để hướng xét tuyển thẳng được thực hiện theo quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hiện hành.
Yêu cầu ghi âm, ghi hình các bài thi năng khiếu
Trả lời câu hỏi của PV về việc làm thế nào để không có tiêu cực trong tuyển sinh như luyện thi, chấm thi các môn năng khiếu, ông Hùng cho biết: Từ nhiều năm nay, Bộ VH-TT-DL đã rất sát sao trong việc kiểm tra, giám sát các trường để không có tình trạng tổ chức các lò luyện môn năng khiếu. Bộ chưa phát hiện các tổ chức cá nhân là cán bộ, giáo viên của nhà trường tổ chức luyện thi, ôn tập và các hình thức tiêu cực biến tướng khác. Ông Hùng nói: “Sau khi được tự chủ, trách nhiệm của Bộ chủ quản trong việc kiểm tra, giám sát sẽ phải cao hơn. Chúng tôi yêu cầu, nếu cán bộ của trường có liên quan đến luyện thi thì không được vào ban ra đề, chấm thi cũng như tham gia các công việc liên quan”.
Để việc chấm thi môn năng khiếu đảm bảo khách quan, ông Hùng cho hay: Từ nhiều năm nay, Bộ VH-TT-DL đã yêu cầu các trường phải tổ chức quay video buổi thi môn năng khiếu. Đây là cơ sở để hội đồng chấm thi xem xét và quyết định điểm thi của thí sinh và để giải quyết các khiếu nại về bài thi. Cũng theo ông Hùng, việc ghi âm, ghi hình bài thi năng khiếu của thí sinh là rất quan trọng và cần phải làm để tránh các hiện tượng tiêu cực trong chấm thi.
Trao đổi với PV Thanh Niên về việc Bộ GD-ĐT có áp dụng quy định như vậy cho tất cả các trường có tổ chức thi môn năng khiếu hay không, ông Ngô Kim Khôi cho hay: Năm nay, Bộ sẽ xem xét để đưa quy định này vào quy chế tuyển sinh. Xung quanh việc quy định miễn thi môn ngữ văn đối với thí sinh thi các ngành khối nghệ thuật, ông Khôi cho rằng: Đối với một số ngành có yêu cầu cao về năng khiếu như hát, múa… thì Hội đồng tuyển sinh các trường có thể ưu tiên cho môn năng khiếu. Tuy nhiên, việc miễn thi không có nghĩa là hạ thấp yêu cầu đối với môn học này. Các trường cần đặt ra yêu cầu trong khi xét tuyển dựa vào kết quả thi tốt nghiệp THPT và điểm tổng kết các năm học. Các yêu cầu này cần phải được công bố công khai trước khi tuyển sinh.
Khi PV Thanh Niên đề cập đến một số ngành có tuyển sinh năng khiếu (như ngành kiến trúc) rất cần thí sinh có năng lực các môn văn hóa nhưng nhiều trường chỉ đề cao môn năng khiếu (thông qua việc nhân hệ số) dẫn đến việc không đảm bảo chất lượng tuyển sinh, ông Khôi cho biết: Bộ không quy định phải nhân hệ số môn nào mà do hội đồng tuyển sinh của các trường tự quyết định. Tuy nhiên, Bộ sẽ xem xét và có thể có những sửa đổi trong quy chế tuyển sinh năm nay.

Nguồn tin: http://www.thanhnien.com.vn

Quy đinh Đào tạo liên thông Đại học và Cao đẳng năm 2013

Quy định mới về đào tạo liên thông đại học và cao đẳng 2013: Đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học là biện pháp tổ chức đào tạo trong đó người học được sử dụng kết quả học tập đã có để học tiếp ở các trình độ cao hơn cùng ngành đào tạo hoặc khi chuyển sang ngành đào tạo.

Cơ sở giáo dục đại học chỉ được tổ chức đào tạo liên thông nếu có quyết định mở ngành đào tạo chính quy trình độ cao đẳng, đại học và đã có ít nhất một khóa sinh viêntốt nghiệp đối với những ngành tổ chức đào tạo liên thông.

Đó là thông tin được nêu trong dự thảo Thông tư quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học.

Cụ thể dự thảo nêu rõ: Cơ sở giáo dục đại học chỉ được tổ chức đào tạo liên thông nếu có quyết định mở ngành đào tạo chính quy trình độ cao đẳng, đại học và đã có ít nhất một khóa sinh viên tốt nghiệp đối với những ngành tổ chức đào tạo liên thông.

Đồng thời, các cơ sở phải có chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo liên thông trong tổng chỉ tiêu tuyển sinh của trường được xác định theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo liên thông chính quy nằm trong tổng chỉ tiêu đào tạo chính quy hàng năm của cơ sở giáo dục đại học. Ngoài ra, phải có báo cáo tự đánh giá của cơ sở giáo dục đại học.

Điều kiện dự thi đào tạo liên thông

Về điều kiện dự thi, dự thảo quy định: Người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, cao đẳng loại giỏi, loại xuất sắc được thi ngay sau khi có quyết định công nhận tốt nghiệp. Còn những người có bằng tốt nghiệp đạt loại khá, loại trung bình khá, loại trung bình chỉ được dự thi sau 12 tháng tính từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp đến ngày dự thi.

Dự thảo yêu cầu người đã tốt nghiệp trung cấp nghề phải là người đã tốt nghiệp trung học cơ sở, đã học đủ khối lượng kiến thức và thi tốt nghiệp các môn văn hóa trung học phổ thông đạt yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Điểm xét tuyển 3 môn thi phải từ 15 điểm trở lên

Đối với việc tuyển sinh đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp lên trình độ đại học, thí sinh dự thi tuyển 2 môn văn hóa theo khối thi của ngành thí sinh dự định học liên thông trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học hệ chính quy hàng năm và 1 môn cơ sở ngành.

Đối với, việc tuyển sinh đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp lên trình độ cao đẳng hoặc từ trình độ cao đẳng nghề, cao đẳng lên trình độ đại học, thí sinh dự thi tuyển 1 môn văn hóa theo khối thi của ngành thí sinh dự định học liên thông trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hàng năm và 2 môn cơ sở ngành.

Đồng thời, để bảo đảm chất lượng đào tạo, dự thảo quy định rõ: Điểm xét tuyển 3 môn thi của thí sinh dự thi cao đẳng, đại học liên thông phải đạt từ 15 điểm trở lên, không có môn thi điểm 0 và xét điểm trúng tuyển của từng ngành học.

Dự thảo Thông tư này đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố lấy ý kiến nhân dân.

Đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học là biện pháp tổ chức đào tạo trong đó người học được sử dụng kết quả học tập đã có để học tiếp ở các trình độ cao hơn cùng ngành đào tạo hoặc khi chuyển sang ngành đào tạo hoặc trình độ đào tạo khác theo hình thức giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên (vừa làm vừa học, đào tạo từ xa).

Khai mạc Chương trình hướng nghiệp, tư vấn tuyển sinh 2013

Với mong muốn mang đến cho các bậc phụ huynh, các em học sinh: (1) Toàn cảnh thông tin tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2013; (2) Tư vấn hướng nghiệp, chọn ngành, nghề cho các em học sinh; (3) Tư vấn học tập và ôn thi đại học, cao đẳng 2013, trang thông tin trực tuyến tuvantuyensinh.vn sẽ phối hợp với Báo Pháp luật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức các buổi tư vấn trực tuyến tại địa chỉ http://huongnghiep.tuvantuyensinh.vn vào lúc 9h00 sáng thứ 7 hàng tuần. Số khai mạc sẽ bắt đầu từ ngày 05/01/2013.

Toàn cảnh Chương trình Tư vấn – Hướng nghiệp

Trong số khai mạc với chủ đề: “Chọn ngành, nghề và chọn trường năm 2013”, Chương trình sẽ cung cấp cho phụ huynh, học sinh những thông tin toàn cảnh về tuyển sinh năm 2012 và một số định hướng về tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong năm 2013. Chương trình cũng sẽ giúp học sinh phương pháp chọn trường, chọn ngành, nghề phù hợp với tính cách, sở thích và năng lực của mỗi học sinh.

Đến dự Lễ Khai mạc và tham gia tư vấn trực tiếp với Chương trình  có các nhà giáo và chuyên gia đến từ Bộ Giáo dục và Đào tạoĐại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, Sở Lao động Thương Binh và Xã hội Tp.Hồ Chí Minh:

(1) TS Đỗ Quốc Anh – Vụ trưởng, Giám đốc Cơ quan Đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Tp.HCM,

(2) TS  Nguyễn Đức Nghĩa – Phó Giám đốc  Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh;

(3) Thầy Nguyễn Quốc Cường – Chuyên viên tuyển sinh Bộ Giáo dục & Đào tạo;

(4) PGS.TS  Nguyễn Đình Phư – Giảng viên Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh.

(5) TS  Nguyễn Viết Đông – Giảng viên Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh

(6)  Ông Nguyễn Thành Hiệp – Trưởng phòng Dạy nghề – Sở Lao động TB&XH Tp.HCM.

Chương trình khai mạc sẽ được tường thuật trực tiếp trên Báo Pháp luật Tp.HCM Online tại địa chỉ:http://phapluattp.vn và Trang thông tin trực tuyến http://tuvantuyensinh.vn.

Ngay từ bây giờ, các bạn học sinh, các bậc phụ huynh có nhu cầu được tư vấn về chọn trường, định hướng nghề nghiệp vui lòng đặt câu hỏi tại đây.

Để thuận tiện cho việc trả lời, Hội đồng tư vấn sẽ ưu tiên trả lời những câu hỏi bằng tiếng Việt, có dấu.


Tuvantuyensinh.vn

Đại học Thương mại và trường Đại học Công nghiệp TP.HCM sẽ tiên phong triển khai đào tạo đại học chính quy ngành Thương mại điện tử

Dự kiến năm 2013, trường Đại học Thương mại và trường Đại học Công nghiệp TP.HCM sẽ tiên phong triển khai đào tạo đại học chính quy ngành Thương mại điện tử (TMĐT).   

2 trưởng Đại học mở ngành thương mại điện tử 1

Từ trước tới nay, các trường đại học, cao đẳng mới chỉ đào tạo chuyên ngành TMĐT chứ chưa có ngành TMĐT. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet. 

Đây là một bước ngoặt mới trong đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp phục vụ sự phát triển của TMĐT Việt Nam.

Trao đổi với phóng viên ICTnews, ông Nguyễn Thanh Hưng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) cho biết, Hội đồng Thẩm định Chương trình đào tạo trình độ đại học ngành TMĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo quyết định thành lập vừa nhất trí thông qua chương trình đào tạo trình độ đại học ngành TMĐT cho hai trường gồm Đại học Thương mại và Đại học Công nghiệp TP.HCM. Dự kiến từ năm 2013, hai trường này có thể tuyển sinh sinh viên ngành TMĐT bậc đại học chính quy, thời gian đào tạo 4 năm theo hình thức tín chỉ.

 

Đối với Đại học Thương mại, Khoa TMĐT sẽ là đơn vị đầu mối, phối hợp với các khoa khác thuộc trường triển khai đào tạo ngành mới này. Còn Đại học Công nghiệp TP.HCM sẽ giao Khoa Thương mại và Du lịch chịu trách nhiệm chính cùng các khoa khác triển khai đào tạo ngành TMĐT (vài năm qua, trường này đã có Bộ môn TMĐT thuộc Khoa CNTT).

 

Theo Báo cáo tình hình đào tạo TMĐT tại các trường đại học và cao đẳng năm 2010 của Bộ Công Thương, trong số 125 trường đại học và cao đẳng được điều tra có 49 trường đại học và 28 trường cao đẳng đã giảng dạy TMĐT như một môn học, trong đó, hai trường gồm Đại học Thương mại và Đại học Ngoại thương đã triển khai đào tạo chuyên ngành Quản trị TMĐT ở bậc đại học thuộc ngành Quản trị Kinh doanh từ năm 2005 và 2007.

 

Nhìn chung, nguồn nhân lực TMĐT được đào tạo chính quy vẫn còn đang rất thiếu. Đội ngũ phụ trách TMĐT tại các doanh nghiệp phần lớn là kiêm nhiệm và chưa được đào tạo chuyên nghiệp.

 

Nhằm sớm cải thiện hiện trạng này, Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2011 – 2015 đã nhấn mạnh tới nhiệm vụ đào tạo chính quy bậc đại học và cao đẳng ngành TMĐT. Dự kiến sau Đại học Thương mại và Đại học Công nghiệp TP.HCM, sẽ có nhiều trường khác đăng ký chuyển từ đào tạo chuyên ngành TMĐT lên ngành TMĐT.

 

Để hỗ trợ các trường xây dựng đội ngũ giảng viên đủ năng lực giảng dạy ngành TMĐT trình độ đại học chính quy, Hội đồng Thẩm định Chương trình đào tạo trình độ đại học ngành TMĐT dự kiến sẽ báo cáo lãnh đạo Bộ Giáo dục & Đào tạo quan tâm và có các giải pháp phù hợp, chẳng hạn bồi dưỡng, đào tạo giảng viên thông qua Đề án “Đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2010-2020” được phê duyệt tại Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 17/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Đề án 911).

 

Theo Ictnews